Chiều 25/4, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về tới Hà Nội, kết thúc chuyến đi tham dự Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 22 diễn ra trong các ngày 24-25/4 tại Bandar Seri Begawan (Brunei).


Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 22 thúc đẩy tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN
Với tinh thần chủ động, tích cực và có trách nhiệm, Đoàn Việt Nam cùng các nước ASEAN và Chủ tịch ASEAN đóng góp tích cực vào thành công chung của Hội nghị; thúc đẩy đoàn kết và vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực; góp phần xây dựng một ASEAN vững mạnh và liên kết chặt chẽ, thúc đẩy hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực.

Thông qua đó, Việt Nam nâng cao vai trò, vị thế, cũng như thúc đẩy quan hệ song phương giữa Việt Nam và các đối tác.

Các nội dung ưu tiên năm 2013

Với chủ đề “Người dân của chúng ta - Tương lai của chúng ta”, lãnh đạo các nước ASEAN đã trao đổi các nội dung ưu tiên của ASEAN trong năm 2013, bao gồm: Phương thức thúc đẩy xây dựng Cộng đồng ASEAN, định hướng tương lai của ASEAN, duy trì đoàn kết và thống nhất, mở rộng và làm sâu sắc quan hệ với các đối tác, phát huy vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực...

Lãnh đạo cấp cao các nước ASEAN nhấn mạnh trong năm 2013, ASEAN cần tạo bước chuyển quan trọng trong tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, đẩy mạnh nỗ lực để đạt các mục tiêu trong Kế hoạch tổng thể về xây dựng Cộng đồng.

Lãnh đạo cấp cao cũng nhất trí ASEAN cần tiếp tục phát huy vai trò chủ động và đóng góp tích cực vào hòa bình, an ninh, ổn định và hợp tác ở khu vực; phát huy các công cụ và cơ chế hợp tác chính trị-an ninh hiện có như: Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á (TAC), Hiệp ước Khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ), Tuyên bố 6 nguyên tắc của ASEAN và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+)…

Đoàn kết, thống nhất trong ASEAN nâng cao vai trò của ASEAN trong các vấn đề quốc tế
Lãnh đạo các nước dành nhiều thời gian để trao đổi về vấn đề Biển Đông, coi đây là vấn đề quan tâm của ASEAN và ASEAN cần có tiếng nói chung, vì hoà bình và an ninh khu vực. Các nước đều khẳng định tầm quan trọng của việc bảo đảm hòa bình, ổn định và an ninh, an toàn hàng hải trên Biển Đông, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình; tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật Biển năm 1982 của LHQ (UNCLOS); tôn trọng và thực hiện đầy đủ DOC đi đôi với thúc đẩy sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

Các nước ASEAN nhấn mạnh nguyên tắc 6 điểm về Biển Đông của ASEAN, Tuyên bố chung ASEAN-Trung Quốc kỷ niệm 10 năm DOC. Lãnh đạo các nước ASEAN giao các Ngoại trưởng và các quan chức cao cấp ASEAN tiếp tục làm việc với Trung Quốc nhằm thúc đẩy Bộ Quy tắc ứng xử (COC).

Bảo đảm hòa bình, an ninh khu vực

Phát biểu tại Hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhấn mạnh ý nghĩa của đẩy mạnh xây dựng Cộng đồng ASEAN; tăng cường quan hệ với các đối tác; xây dựng Cộng đồng ASEAN gắn kết, thịnh vượng và hướng tới người dân...

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng, ASEAN cần tiếp tục đoàn kết, phát huy vai trò tích cực, chủ động trong bảo đảm môi trường hòa bình, an ninh và phát triển ở khu vực và tăng cường hợp tác ứng phó hiệu quả với thách thức như: Khủng hoảng kinh tế toàn cầu, thiên tai, biến đổi khí hậu, an ninh hàng hải, dịch bệnh…

Về vấn đề Biển Đông, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh, ASEAN cần đoàn kết và phát huy tiếng nói chung vì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải ở Biển Đông.

Thủ tướng nhấn mạnh việc triển khai hiệu quả các cam kết và thỏa thuận đã có, trong đó có Tuyên bố 6 nguyên tắc của ASEAN về Biển Đông và Tuyên bố Cấp cao ASEAN-Trung Quốc kỷ niệm 10 năm DOC; giải quyết tranh chấp giữa các bên liên quan bằng biện pháp hòa bình; tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật Biển năm 1982 của LHQ (UNCLOS), thực hiện đầy đủ và hiệu quả DOC, tăng cường xây dựng lòng tin và sớm xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

Phát huy vai trò trung tâm của ASEAN

Bên lề Hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã hội kiến với Quốc vương Brunei Haji Hassanal Bolkiah; tiếp xúc với Tổng thống Indonesia Susilo Bambang Yudhoyono, Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra, Tổng thống Philippines Benigno S Akino III; Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp xúc với Tổng thống Philippines nhằm tăng cường quan hệ song phương
Tại các cuộc hội kiến và tiếp xúc, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các nhà lãnh đạo ASEAN đã trao đổi nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác song phương; đồng thời khẳng định cam kết sẽ hợp tác chặt chẽ nhằm duy trì đoàn kết, phát huy vai trò trung tâm của ASEAN trong các tiến trình khu vực, nỗ lực hơn nữa để thúc đẩy tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN. 

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các nhà lãnh đạo ASEAN cũng trao đổi những vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm. Đề cập tới vấn đề Biển Đông, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các nhà lãnh đạo khẳng định quan điểm: Hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải trên Biển Đông là quan tâm và là lợi ích chung của ASEAN và các nước liên quan.

Nhất trí việc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982; thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố 6 nguyên tắc của ASEAN, Tuyên bố DOC và thúc đẩy sớm hoàn tất Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

Theo VGP News

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND thành phố Hải Phòng kiểm tra, làm rõ vụ việc báo chí nêu về vụ ẩu đả, xô xát giữa những người dân xã Đại Thắng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng với các đối tượng côn đồ xảy ra trưa 21/4/2013.
Hiện trường vụ việc
Trước đó, ngày 22-23/4, một số báo đã đưa tin về vụ ẩu đả, xô xát giữa những người dân xã Đại Thắng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng với các đối tượng côn đồ xảy ra trưa 21/4 tại khu vực đất thực hiện dự án xây dựng nhà máy của Công ty Cổ phần Hoa Thành; đặt vấn đề về trách nhiệm của UBND thành phố Hải Phòng và công tác thu hồi đất, bàn giao đất chưa đúng quy định của pháp luật.

Về vấn đề này, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND thành phố Hải Phòng kiểm tra, làm rõ vụ việc, chỉ đạo giải quyết, tổ chức cung cấp thông tin chính thức, kịp thời để dư luận và người dân hiểu rõ.

Đồng thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả trước ngày 5/5/2013.

Theo VGP News

Việc Trung Quốc lưu hành Bản đồ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và công bố “Quy hoạch phát triển sự nghiệp hải dương quốc gia 5 năm lần thứ 12”, đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vi phạm luật pháp quốc tế, gây căng thẳng và phức tạp tình hình ở Biển Đông...


Ngày 24/4/2013, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc Trung Quốc chính thức phát hành Bản đồ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và công bố “Quy hoạch phát triển sự nghiệp hải dương quốc gia 5 năm lần thứ 12”, trong đó có những nội dung vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam ở Biển Đông, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị nêu rõ:

“Việt Nam khẳng định chủ quyền không tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ở Biển Đông theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982.

Việc Trung Quốc lưu hành bản đồ và công bố quy hoạch nêu trên đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở Biển Đông, vi phạm luật pháp quốc tế, Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc; không phù hợp với tinh thần DOC, gây căng thẳng và phức tạp tình hình ở Biển Đông. Bản đồ và quy hoạch trên là hoàn toàn vô giá trị”.

Theo VGP News

Ngày 24/4, Ngân hàng Nhà nước đã có Công văn số 2842/NHNN-QLNH gửi Tổng cục An ninh II - Bộ Công an, “về việc báo Thanh Niên đăng tin sai lệch về chính sách quản lý thị trường vàng”.

Công văn Ngân hàng Nhà nước gửi Bộ Công an đề nghị “phối hợp xử lý”.
Công văn trên cho biết, ngày 24/4/2013, báo Thanh Niên có đăng bài báo “Từ thống kê về Việt Nam của Hiệp hội Vàng Thế giới: “Rửa” vàng bằng cơ chế?”. Bài báo dẫn số liệu của “Hiệp hội Vàng Thế giới” về tổng nhu cầu vàng của Việt Nam trong hai năm 2011 và 2012 để phân tích và đưa ra nhận định “hàng tỷ USD nhập lậu vàng” và “các chính sách xuất - nhập và cuộc chuyển đổi vàng phi SJC sang SJC trong thời gian qua hé lộ khả năng đã có tình trạng trục lợi chính sách để “rửa” số lượng vàng lậu khổng lồ đã tràn vào Việt Nam” và “hợp pháp hóa vàng lậu”.

Cùng ngày, Ngân hàng Nhà nước đã liên hệ với Hội đồng Vàng Thế giới để làm rõ về nguồn số liệu bài báo trích dẫn, và cho biết, theo thông tin chính thức trên trang tin điện tử của Hội đồng Vàng Thế giới, hàng năm, tổ chức này gặp gỡ các doanh nghiệp kinh doanh vàng, các chuyên gia để trao đổi, đưa ra nhận định về nhu cầu vàng của các quốc gia. Trên cơ sở đó, tổ chức này đưa ra con số ước tính về nhu cầu vàng của người tiêu dùng tại các quốc gia, bao gồm nhu cầu vàng trang sức, nhu cầu vàng đầu tư.

“Như vậy, số liệu về nhu cầu vàng của Việt Nam nêu trong báo cáo thường niên của Hội đồng Vàng Thế giới là con số dự tính nhu cầu vàng của Việt Nam; hoàn toàn không phải là số liệu về số lượng vàng nhập khẩu hàng năm của Việt Nam”, Ngân hàng Nhà nước khẳng định như vậy, cũng như nêu trong công văn gửi Bộ Công an, trong thông cáo báo chí phát đi cuối chiều 24/4.

Dẫn nguồn thống kê của “Hiệp hội Vàng Thế giới”, bài báo trên cho biết trong hai năm qua khối lượng vàng nữ trang nhập lậu vào Việt Nam có thể lên tới trên 25,5 tấn. Đáng chú ý là trong hai năm 2011 và 2012, số lượng vàng thỏi nhập vào Việt Nam còn lớn hơn nhiều; năm 2011 là 87,8 tấn, năm 2012 là 75,2 tấn, tổng cộng hơn 8,5 tỷ USD. Nguồn vàng nhập lậu đó được gắn với khả năng trục lợi chính sách xuất nhập khẩu và việc chuyển đổi vàng phi SJC sang SJC để “rửa” vàng, kiếm lợi lớn…

Tuy nhiên, về chủ trương tạm xuất, tái nhập vàng, thông cáo của Ngân hàng Nhà nước cũng giải thích rằng: theo Nghị định 24/2012/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, Nhà nước công nhận quyền nắm giữ, mua, bán tất cả các thương hiệu vàng miếng hợp pháp của người dân, không có sự phân biệt đối xử và không hạn chế lưu thông các thương hiệu vàng miếng khác SJC.

Nghị định 24 và các quy định khác của pháp luật không có quy định nào bắt buộc phải chuyển đổi các loại vàng miếng khác sang vàng miếng SJC. Để đáp ứng nhu cầu chuyển đổi vàng miếng khác SJC sang vàng miếng SJC của người dân, tổ chức tín dụng và doanh nghiệp, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành quy định chặt chẽ để thực hiện việc chuyển đổi vàng miếng thương hiệu khác sang vàng miếng SJC.

Để đẩy nhanh tiến độ kiểm định, chuyển đổi, Ngân hàng Nhà nước đã cho phép thực hiện việc tạm xuất vàng miếng phi SJC và tái nhập vàng nguyên liệu tiêu chuẩn quốc tế với khối lượng xuất khẩu bằng khối lượng nhập khẩu. Việc thực hiện chủ trương này nhằm đẩy nhanh tiến độ kiểm định, gia công vàng miếng phi SJC thành vàng SJC theo đúng quy định của pháp luật và Ngân hàng Nhà nước đã báo cáo Chính phủ trước khi thực hiện.

Toàn bộ khối lượng vàng phi SJC tạm xuất là vàng miếng đang được lưu thông hợp pháp trên thị trường và chủ yếu thuộc sở hữu hợp pháp của người dân đang gửi tại tổ chức tín dụng. Quy trình tạm xuất, tái nhập được Ngân hàng Nhà nước tổ chức thực hiện, giám sát chặt chẽ, có kiểm tra tồn quỹ trước khi xuất khẩu. Việc tạm xuất, tái nhập đã hoàn thành vào ngày 31/3/2013.

Với những giải thích trên, thông cáo của Ngân hàng Nhà nước cho rằng, bài báo đã “cố tình suy diễn, bóp méo hàng loạt chủ trương chính sách của Nhà nước về quản lý thị trường vàng, chuyển tải tới người đọc thông điệp sai về cơ chế, chính sách của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, tạo ra sự hoài nghi đối với các chủ trương, chính sách quản lý thị trường vàng và các nỗ lực phối hợp phòng, chống buôn lậu của các cơ quan Nhà nước”.

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước đề nghị Tổng cục An ninh II (Bộ Công an) phối hợp xử lý theo quy định của pháp luật.

Liên quan đến hoạt động tạm xuất, tái nhập trên, đầu tháng 3/2013, trên báo Thanh Niên cũng có bài viết với thông tin 4 ngân hàng thương mại được tạm nhập 11,5 tấn vàng, về “nhờ” SJC dập ra vàng miếng SJC, bán theo giá giảm. Và hướng dự tính đưa ra là, kiểu bán khống này tạo hiệu ứng trong dân cư, khiến người dân sẽ bán mạnh ra theo, sau đó các ngân hàng mới từ từ mua vào giá thấp với lượng lớn hơn quy mô đã bán ra, vừa có nguồn hàng giá thấp trả cho việc tạm nhập, vừa để tất toán trạng thái…

Trước thông tin đó, Ngân hàng Nhà nước cũng đã có thông cáo phủ nhận hoàn toàn không có việc cho tạm nhập và khả năng “bán khống” 11,5 tấn vàng nói trên.

Theo VnEconomy

Dư luận chẳng mấy bất ngờ khi "Tổ chức Phóng viên không biên giới" (RSF) xếp Việt Nam vào nhóm 5 quốc gia là “kẻ thù của internet" đồng thời ra sức bênh vực các blogger lợi dụng tự do internet ở Việt Nam để truyền bá những quan điểm sai trái, thông tin xuyên tạc đi ngược lại lợi ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân.


Theo thông tin được công bố trong "Sách trắng Internet Việt Nam" của Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC), tính đến hết quý 3-2012, Việt Nam có 31.196.878 người sử dụng internet (chiếm 35,49% dân số) và Việt Nam đang đứng thứ 18/20 quốc gia có số người sử dụng internet lớn nhất thế giới, đứng thứ 8 khu vực châu Á và đứng thứ 3 ở khu vực ASEAN. So với năm 2000, số lượng người dùng internet ở Việt Nam đã tăng hơn 15 lần. Việt Nam là nước đứng đầu khu vực ASEAN về số lượng đăng ký tên miền quốc gia… Theo báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam, đến hết năm 2012, tổng số thuê bao 3G ở Việt Nam đạt xấp xỉ 20 triệu thuê bao, với hạ tầng phủ rộng khắp nơi để mọi người dân có thể sử dụng dịch vụ này một cách dễ dàng. Theo số liệu của website: www.techinasia.com công bố ngày 21-3-2013: Lượng người dùng mạng xã hội Facebook ở Việt Nam tăng từ 8,5 triệu vào tháng 10-2012, lên thành 12 triệu tháng 3-2013... Riêng với dịch vụ blog, tính đến tháng 4-2012, ở Việt Nam, Yahoo! 360Plus có khoảng 2,3 triệu thành viên. Các dịch vụ blog khác như: Yume 2,4 triệu người dùng; wordpress.com là 2,9 triệu thành viên; blogspot.com là 5,1 triệu thành viên... Du khách khi tới Việt Nam, không ai phủ nhận thực tế có thể dễ dàng truy cập internet, nhất là tại các thành phố, thị xã, huyện lỵ... Và cũng cần khẳng định thêm rằng, ở Việt Nam không có ai bị xử lý vì viết blog hay viết báo, mà chỉ bị xử lý vì đã vi phạm pháp luật và tất cả những hành vi vi phạm đó đều được đưa ra xử lý công khai, đúng người, đúng tội. Đây là công việc mà mọi quốc gia trên thế giới đều làm.

Thực tế cho thấy, internet nói chung, mạng xã hội nói riêng ở Việt Nam phát triển với tốc độ rất cao. Đó là kết quả từ sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam. Vậy mà RSF lại vu lên rằng Việt Nam là "kẻ thù của internet". Có ý kiến cho rằng, RSF đang thiếu thông tin, nhưng có lẽ không phải vậy. Họ biết nhưng cố tình xuyên tạc để lẩn tránh một sự thật rất rõ ràng về sự phát triển của internet ở Việt Nam.

Theo QĐND

Ông Alfred Schipker, Trưởng đoàn Giám sát Kinh tế Vĩ mô (Quỹ Tiền tệ Quốc tế - IMF), cho rằng những định hướng điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ Việt Nam là đúng hướng, đem lại kết quả tích cực.

Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh tái khẳng định quyết tâm của Chính phủ trong việc kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, đẩy nhanh tốc độ tái cấu trúc nền kinh tế

Tại buổi tiếp ông Alfred Schipker, chiều 23/4, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh ghi nhận và cảm ơn sự hỗ trợ, giúp đỡ của IMF dành cho Việt Nam thời gian qua, đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới có nhiều diễn biến phức tạp.

Sau khi thông báo những nét lớn về kinh tế vĩ mô của Việt Nam năm 2012 và quý I/2013, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh khẳng định Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục kiên định mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đẩy mạnh thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế theo 3 trọng tâm: tái cấu trúc đầu tư công, tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức tín dụng.

Đối với những khuyến nghị chính sách của IMF, các cơ quan hữu quan của Việt Nam sẽ trân trọng tiếp thu và xem xét một cách trách nhiệm trong quá trình xây dựng chính sách, Phó Thủ tướng khẳng định.

Theo nhận định của cá nhân ông Alfred Schipker và đoàn Giám sát Kinh tế Vĩ mô của IMF, kinh tế vĩ mô của Việt Nam đang phát triển đúng hướng, với những diễn biến tích cực thể hiện ở những cán cân lớn như: lạm phát giảm, tăng trưởng ở mức hợp lý, dự trữ ngoại hối tăng.

Trên cơ sở đó, IMF tiếp tục khuyến nghị Chính phủ Việt Nam tiếp tục giữ vững định hướng điều hành kinh tế vĩ mô, đồng thời đẩy mạnh tái cấu trúc nền kinh tế với 3 trọng tâm đã nêu.

“Chính phủ nên tiếp tục kiên định, giữ ổn định chính sách vĩ mô nhằm duy trì và củng cố niềm tin của thị trường thay vì sớm chuyển hướng sang ưu tiên tăng trưởng”, ông Alfred Schipker nói.

Đánh giá cao những biện pháp, kết quả Việt Nam đã đạt được trong cải cách, tái cấu trúc nền kinh tế, ông Alfred Schipker cũng cho rằng quá trình tái cấu trúc nền kinh tế cần thực hiện mạnh mẽ, quyết liệt hơn nữa.

Đại diện IMF cũng khẳng định mong muốn hợp tác chặt chẽ, tăng cường hỗ trợ kỹ thuật, trao đổi kinh nghiệm với Chính phủ, các bộ ngành của Việt Nam.

Theo VGP News

Một hòn đá lạ với những hình vẽ khó hiểu được đặt ngay tại Đền Thượng (Đền Hùng, Phú Thọ) đang khiến dư luận xôn xao, lo lắng. Nhiều người đồn thổi rằng, đây có thể là một đạo bùa hóa giải hết mọi tai ương, kiếp nạn, tuy nhiên một số ý kiến khác lại quan niệm hòn đá lạ này là dạng bùa yểm không tốt…Thế những có những kẻ lại muốn dùng "hòn đá" này để đả kích Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
"Hòn đá lạ" đang tạo rùm beng dư luận
 
Sở dĩ gọi là lạ vì mặt trước và sau của hòn đá có rất nhiều ký tự cổ, dấu ấn vuông, họa tiết phức tạp khó hiểu. Bề ngoài hòn đá cao khoảng 50 cm, bề rộng nhất 35 cm, hình cánh buồm được đặt trên bệ gia cố khá đẹp mắt.

Hòn đá có hai mặt, mặt trước phía trên có dấu ấn hình vuông “Tổ Vương Tứ Phúc”, bên trái là dòng chữ Phạn – một câu thần chú của Phật giáo Mật tông, dòng chữ Hán là “Bách giải tiêu tai phù” ý nói rằng đây là một đạo bùa cát, cầu giải tai ương, thỉnh cầu phúc đức?

Tuy nhiên, một số chi tiết khó hiểu mà chúng ta chưa biết có thể phản lại ý nghĩa trên. Vì mặt sau hòn đá là các hình tinh tú, bên dưới là vòng tròn nhỏ giống bát trận đồ của Khổng Minh thời Tam Quốc, chân của hòn đá là hình bát quái, nghĩa là quẻ càn?

Việc hòn đá lạ được đặt ở Đền Thượng – nơi linh thương nhất của Đền Hùng đã khiến nhiều người đặt câu hỏi: Liệu hòn đá ở đó có ảnh hưởng gì? Nếu có thì bùa chú gì ở đó?
 
Hiện thực hư hòn đá này là điềm tốt hay xấu vẫn chưa biết thế nào, thế nhưng một số trang mạng cá nhân đã lợi dụng sự việc trên để tung tin có chủ đích, gây hoang mang dư luận. Thâm hiểm hơn như trang “Dân luận” viết: “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tìm ra nguyên nhân tại sao Việt Nam đi xuống về mọi mặt từ năm 2009 đến nay” rồi cố tình móc thêm câu “Rõ ràng là từ năm 2009 đến nay hòn đá lạ ở Đền Hùng đã không làm tốt nhiệm vụ của nó”.

Rõ ràng hành động trên đã bộc lộ rõ chủ ý của người viết, muốn vịn vào sự việc hòn đá lạ ở Đền Hùng để “nhắm” vào điều hành của Chính phủ, khiến người dân không chỉ mang tâm lý bất an mà còn có thể mất dần niềm tin đối với Chính phủ.

Thực ra, mấy cái luận điệu cũ rích, diễn giải theo lối quy chụp, phiến diện để hòng “mượn gió bẻ măng” coi ra chỉ gạt được một số người. Vì nếu cứ áp nhìn sự việc dưới con mắt phiến diện một chiều thì bản chất sự việc tất nhiên sẽ dễ dàng bị bóp méo theo chủ đích của những kẻ đứng sau giật dây. Nhưng nếu nhìn nhận đánh giá sự việc một cách khách quan chúng ta sẽ thấy rõ rằng nền kinh tế Việt Nam không hẳn đi xuống mà thực ra có rất nhiều điểm sáng trong phát triển kinh tế những năm qua.

Lấy ví dụ như hình minh họa trên chúng ta có thể dễ dàng ngộ ra rằng, sống trong thời đại bùng nổ thông tin, nếu chỉ tiếp nhận thông tin từ một chiều sẽ rất dễ sa vào cái bẫy do ai đó cố ý bày ra, dẫn đến những suy nghĩ lệch lạc, tiêu cực… Trong cuộc sống, có những việc tốt thì rất ít người nhận ra, ngược lại những cái chưa hoàn thiện cũng bị coi là xấu. 

Hãy là những bạn đọc thông thái, để có cái nhìn đa chiều, khách quan, từ đó có thể bóc tách, phân tích sự việc một cách thấu đáo nhất.
 
Bạch Dương

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Kế hoạch triển khai Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và Nghị định thư về phòng ngừa, trừng trị, trấn áp tội phạm buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em.

Việc triển khai Công ước và Nghị định thư được tổ chức thực hiện gắn với các chương trình, kế hoạch hành động, phòng chống tội phạm trên phạm vi toàn quốc, nhất là Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2012-2015; Chương trình hành động phòng, chống tội phạm mua bán người giai đoạn 2011-2015 và các chương trình, kế hoạch hành động phòng, chống tội phạm khác.


Cụ thể, tập trung tuyên truyền, phổ biến nội dung của Công ước, Nghị định thư và các văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống tội phạm có liên quan nhằm thống nhất nhận thức và nâng cao trách nhiệm cho đội ngũ làm công tác nghiên cứu, quản lý, cán bộ trực tiếp làm công tác phòng, chống tội phạm ở các Bộ, địa phương, cơ quan và toàn thể nhân dân.

Để tổ chức thực hiện toàn diện nội dung Công ước và Nghị định thư trên phạm vi cả nước, giai đoạn 2013-2015, trọng tâm trước mắt là rà soát và hoàn thiện các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành pháp luật về phòng, chống tội phạm cho phù hợp với Công ước và Nghị định thư. Trong đó, tập trung nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật phòng, chống ma túy, Luật tương trợ tư pháp, Luật phòng, chống mua bán người, Luật phòng, chống rửa tiền.

Bên cạnh đó, xây dựng cơ chế phối hợp, phân công trách nhiệm cho các Bộ, ngành, cơ quan triển khai, theo dõi, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện Công ước và Nghị định thư.

Đồng thời, xây dựng các đề án nghiên cứu về hoạt động điều tra đặc biệt, hợp tác quốc tế trong điều tra hình sự; tăng cường ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế song phương, đa phương trong lĩnh vực tương trợ tư pháp về hình sự, dẫn độ...

Tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp luật trong nước, tăng cường hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm, bổ sung cơ chế phối hợp góp phần tăng cường hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm có tổ chức, phù hợp với Công ước và Nghị định thư.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức hữu quan, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, chủ động bổ sung nhiệm vụ thực thi Công ước và Nghị định thư vào chương trình, kế hoạch công tác của mình.

Đề nghị Viện kiểm sát Nhân dân Tối cao, Tòa án Nhân dân Tối cao căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định, xây dựng đề án, kế hoạch, bổ sung nội dung hoạt động để thực hiện Kế hoạch này.

Giao Bộ Công an là cơ quan thường trực thực hiện Công ước và Nghị định thư, có nhiệm vụ tham mưu giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tổ chức, chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Kế hoạch này trên phạm vi cả nước.

Theo VGP News

Theo phóng viên TTXVN tại Liên hợp quốc, mới đây tại trụ sở Liên hợp quốc ở thành phố New York của Mỹ đã diễn phiên họp lần thứ hai của Nhóm làm việc Xây dựng các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc.

Tại phiên họp, đại diện các nước đã thảo luận kỹ về khái niệm và cách tiếp cận xây dựng các mục tiêu phát triển bền vững, cũng như xóa đói giảm nghèo trên phạm vi toàn cầu.

Đại sứ Lê Hoài Trung, Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực của Việt Nam tại LHQ.
Các nước nhất trí với nhận định rằng, các mục tiêu phát triển bền vững phải tuân thủ luật pháp quốc tế, dựa trên những nguyên tắc của các Hội nghị Rio, phát huy những bài học rút ra từ quá trình thực hiện Các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG) và phản ánh đầy đủ 3 trụ cột kinh tế, xã hội, môi trường.

Với tư cách là Chủ tịch Nhóm Troika gồm Bhutan, Thái Lan và Việt Nam, Đại sứ Lê Hoài Trung, Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc, đã thay mặt nhóm phát biểu về hai đề mục của phiên họp, nhấn mạnh nguyên tắc trách nhiệm chung trong quá trình xây dựng các mục tiêu phát triển bền vững.

Đại sứ Lê Hoài Trung khẳng định các mục tiêu này cần đảm bảo tính bền vững, nâng cao khả năng phục hồi trước các rủi ro và giảm bất bình đẳng; nhấn mạnh những ưu tiên của Việt Nam trong việc thực hiện Chiến lược phát triển bền vững quốc gia (2011-2020) trên ba trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường.

Đại sứ cho biết trong bối cảnh tình trạng nghèo đói ngày càng diễn biến phức tạp và mang tính đa chiều, Việt Nam khẳng định chủ trương luôn đặt con người vào vị trí trung tâm trong mọi chính sách xóa đói giảm nghèo, luôn quan tâm đến các nhóm dễ bị tổn thương; hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội và tăng cường khả năng ứng phó của người dân trước các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu.

Ngoài ra, Việt Nam cũng rất quan tâm đến việc nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các hình thức triển khai thực hiện các MDG nói chung, xóa đói giảm nghèo nói riêng, nhằm tạo thuận lợi cho thương mại hóa, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và phát triển cơ sở hạ tầng...

TTXVN

Cách ngày nay 143 năm, ngày 22 tháng 4 năm 1870, V.I.Lê-nin - lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân và những người bị áp bức trên thế giới, người "khổng lồ” của thế kỷ XX - đã được sinh ra. Hoạt động lý luận và thực tiễn sôi nổi, đầy sáng tạo của V.I.Lê-nin đã để lại di sản vô cùng quý báu đối với giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Phát triển sáng tạo và hiện thực hoá những tư tưởng cơ bản của C.Mác, Ph.Ăng-ghen trong điều kiện lịch sử mới; thúc đẩy sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; lãnh đạo và tổ chức thắng lợi cuộc cách mạng vô sản đầu tiên, Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại - cuộc cách mạng vạch thời địa - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, là những đóng góp to lớn của V.I.Lê-nin đối với giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ, tạo ra tầm vóc "khổng lồ” của Người.
V.I.Lê-nin. Ảnh tư liệu
Tư tưởng của V.I.Lê-nin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân là một tư tưởng quan trọng trong học thuyết Mác - Lê-nin về chiến tranh và quân đội, có ý nghĩa lý luận, thực tiễn to lớn và vẫn nóng hổi tính thời sự. Cống hiến to lớn của V.I.Lê-nin trong vấn đề này là ở chỗ, Người không chỉ phát triển một cách toàn diện và có hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về xây dựng quân đội kiểu mới, mà còn trực tiếp lãnh đạo và tổ chức xây dựng Hồng quân công nông vững mạnh, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới.

Theo V.I.Lê-nin, sự nghiệp cách mạng “Cần có một quân đội cách mạng vì những vấn đề lịch sử vĩ đại chỉ có thể được giải quyết bằng vũ lực mà trong cuộc đấu tranh hiện đại thì tổ chức vũ lực có nghĩa là tổ chức quân sự”[1]. Sau Cách mạng Tháng Mười, trước sự đòi hỏi cấp thiết của tình hình, V.I.Lê-nin đã ký sắc lệnh thành lập Hồng quân công nông: “Để bảo vệ chủ quyền toàn vẹn cho quần chúng lao động và trừ bỏ mọi khả năng phục hồi chính quyền của bọn bóc lột”[2]. Người coi quân đội cách mạng là “trụ cột của chính phủ cách mạng”, là công cụ để quần chúng nhân dân sử dụng giải quyết những cuộc xung đột vĩ đại trong lịch sử.

Trong thực tiễn, V.I.Lê-nin luôn quan tâm xây dựng Hồng quân vững mạnh, đặt biệt là về chính trị. Người vạch rõ bản chất phản động của luận điệu “quân đội đứng ngoài chính trị”, coi đó là “cái giáo lý tầm thường”, “giả nhân, giả nghĩa và dối trá”. V.I.Lê-nin khẳng định một cách dứt khoát không có quân đội trung lập về chính trị: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản và của chế độ Nga hoàng, bọn này trong thực tế bao giờ cũng đã lôi kéo quân đội vào chính trị phản động”[3].

Để Hồng quân thực sự là quân đội cách mạng, tuyệt đối trung thành với nhân dân, với chế độ xã hội chủ nghĩa, V.I.Lê-nin yêu cầu, Hồng quân phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phải “thành lập các chi bộ cộng sản trong mỗi một đơn vị quân đội”[4]. V.I.Lê-nin và Đảng Bônsêvich Nga đã thành lập các tổ chức đảng, xây dựng và thực hiện chế độ chính ủy, coi đó là một nguyên tắc cơ bản trong xây dựng Hồng quân.

Trung thành và vận dụng sáng tạo lý luận của V.I.Lê-nin về xây dựng quân đội kiểu mới vào điều kiện cụ thể Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện quân đội ta, một quân đội mang đầy đủ bản chất, tính chất, đặc điểm của quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân. Gần 7 thập kỷ qua, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội ta đã anh dũng chiến đấu, hy sinh viết nên truyền thống tốt đẹp "Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội; nhiệm vụ nào cũng hoàn thành; khó khăn nào cũng vượt qua; kẻ thù nào cũng đánh thắng", làm rạng rỡ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, thật sự là công cụ bạo lực sắc bén, là lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin cậy, yêu mến.

Mới đây, trong góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, có người đưa ra kiến nghị: Quân đội phải đứng ngoài chính trị, “chỉ để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và phục vụ nhân dân”; quân đội “không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào, đảng phái nào”; họ yêu sách từ bỏ quy định quân đội phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam v.v..

Đó là những luận điểm vô căn cứ, không đúng với thực tiễn lịch sử, phản khoa học và có dụng ý xấu về chính trị. Thực chất đó là khẩu hiệu "giả nhân giả nghĩa" của các thế lực phản động chống đối, điều mà V.I.Lê-nin đã từng vạch rõ từ đầu thế kỷ XX. Tính chất "giả nhân giả nghĩa" của những kẻ đưa ra quan điểm trên biểu hiện ở chỗ: Thứ nhất, nhằm để đánh lừa người khác, chứ bản thân chúng thừa hiểu quân đội không thể "đứng ngoài chính trị", quân đội phải mang bản chất chính trị và phải phục vụ cho ai; thứ hai, trên cơ sở đó, chúng nhằm "lôi kéo quân đội vào chính trị phản động” chống lại Tổ quốc, chống lại Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Những người đưa ra các quan điểm trên thông qua việc góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp để thực hiện âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội ta, đi đến loại bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội, xóa nhòa bản chất chính trị - giai cấp, tiến tới làm biến chất, lái chính trị của quân đội ta theo chiều hướng chính trị khác, làm cho quân đội ngả theo các thế lực phản cách mạng, chống lại Đảng và chế độ.

Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Quân đội ta không thể đứng ngoài chính trị, đứng ngoài cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta. Đúng là nhiệm vụ của quân đội là để “bảo vệ người lao động”, là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, nhưng chỉ có Quân đội nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mới có thể làm tròn phận sự trung thành với Tổ quốc Việt Nam, với nhân dân Việt Nam theo đúng nghĩa của nó; mới có thể làm cho sự trung thành với Đảng, Nhà nước, chế độ và với Tổ quốc, với nhân dân gắn bó chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể thống nhất, không thể tách rời. 

Chính trị của quân đội ta, quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, là thực hiện chính trị của Đảng và Nhà nước Việt Nam, phục vụ Đảng, Tổ quốc, phục vụ nhân dân, biểu hiện tập trung ở nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Không thể "giả nhân giả nghĩa" nói bừa rằng quân đội đứng ngoài chính trị, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của lực lượng chính trị, đảng phái nào. Lời nhắc nhở của V.I.Lê-nin: Quân đội không thể đứng ngoài chính trị, “không thể và không nên trung lập" vẫn luôn nóng hổi tính thời sự, chúng ta phải luôn ghi lòng, tạc dạ.

Theo QĐND

[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 10, Nxb Tiến Bộ, M. 1979, tr. 376.

[2] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 35, Nxb Tiến Bộ, M.1978, tr. 264.

[3] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 12, Nxb Tiến Bộ, M. 1979, tr. 136.

[4] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến Bộ, M. 1977, tr. 250.

Đại diện Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho rằng, đẩy mạnh tái cơ cấu, Việt Nam có thể tiến tới vị thế kinh tế mới.


Nhận định này được chuyên gia của IMF Alfred Schipke đưa ra tại Hội thảo “Việt Nam - Giữ vững ổn định, tăng cường lợi thế cạnh tranh và gặt hái được các tiềm năng tăng trưởng” do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) phối hợp cùng IMF tổ chức ngày 18/4.

Các chuyên gia cho rằng, Việt Nam đang ở vào giai đoạn bước ngoặt quan trọng. Trong những năm qua, Việt Nam đã có nhiều thành tựu ấn tượng về phát triển kinh tế nhưng đang gặp một số thách thức như: tăng trưởng chậm hơn, khó khăn của hệ thống ngân hàng và thị trường bất động sản, một số doanh nghiệp nhà nước hoạt động chưa hiệu quả…

Thực tế này đòi hỏi Việt Nam phải đẩy nhanh quá trình tái cấu trúc nền kinh tế nhằm khai thác các tiềm năng tăng trưởng, lợi thế cạnh tranh, bền vững trong phát triển kinh tế, nâng vị thế thị trường.

Chuyên gia Alfred Schipke đánh giá, Việt Nam đang hội nhập tích cực với toàn cầu, dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam, xuất khẩu tăng trưởng cao… Đặc biệt, trong thời gian tới, với việc tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) sẽ mang lại nhiều lợi ích.

Nhận định khá khả quan về các nền kinh tế Châu Á, trong đó có Việt Nam, đại diện IMF cho rằng, các nước này sẽ tiếp tục phát huy lợi thế cơ cấu dân số, tiếp tục dẫn đầu về phát triển kinh tế, phát huy hiệu quả của thương mại.

Tuy nhiên, IMF cũng khuyến nghị, để tận dụng cơ hội tốt hơn, Việt Nam cần đẩy nhanh quá trình cải cách, đặc biệt là cải cách thể chế và môi trường kinh doanh, xây dựng các biện pháp giảm sốc trong chính sách tài khóa và kinh tế đối ngoại.

Tuy nhiên, theo Vụ trưởng Vụ Chính sách Tiền tệ (NHNN) Nguyễn Thị Hồng, trong bối cảnh kinh tế thế giới còn diễn biến phức tạp, chính sách tiền tệ trong năm 2013 cần bám sát điều kiện kinh tế vĩ mô, đặc biệt là chỉ số lạm phát, thực hiện các giải pháp về tiền tệ, tín dụng để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh.

Theo baodientu.chinhphu.vn

Thủ tướng Chính phủ vừa có quyết định từ nay đến 2014 sẽ cố phần hóa, bán 25% vốn tại các cảng biển cấp 1 vốn lâu nay do Nhà nước sở hữu độc quyền như Cảng Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Sài Gòn...

Đây được xem là giải pháp mạnh nhằm đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư vào phát triển hệ thống cảng biển, qua đó giảm bớt đầu tư của nhà nước để dành vốn cho các lĩnh vực thiết yếu hơn. Và đặc biệt, điều này cũng sẽ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của các cảng biển, qua đó hỗ trợ tiến trình tái cơ cấu ngành Hàng hải, bù đắp các khó khăn cho lĩnh vực vận tải biển hiện nay.

Hơn mười năm trước,do liên tục làm ăn thua lỗ từ 2-3 tỷ đồng mỗi năm mà cảng Đoạn Xá (Hải Phòng) đã phải tiến hành cổ phần hóa, nhưng chỉ một năm sau khi chuyển đổi, doanh nghiệp đã liên tục có lãi, chia cổ tức bình quân trên 35%/năm. 

Trong năm 2012 vừa qua, doanh nghiệp chỉ có một cầu cảng này lãi trên 103 tỷ đồng, chia cổ tức tới 70%. Kết quả này có được là nhờ mô hình quản lý của DN cổ phần phù hợp với thực tiễn kinh doanh cảng biển.

Lãnh đạo Cảng Đoạn Xá giải thích cho thực tế hoạt động còn chưa hiệu quả của mình là do đang phải thực hiện một số công việc mà các cảng khác không làm vì phí thu được rất thấp như bốc dỡ hàng dời, hàng lương thực...đó là chưa kể cảng này hiện phải đảm bảo việc làm cho gần 4.000 lao động chính thức và hàng nghìn lao động theo mùa vụ. 

Tuy nhiên, lãnh đạo Cảng Hải Phòng cũng thừa nhận, việc cổ phần hóa, bán một phần vốn nhà nước tại DN đi đôi với việc đổi mới mô hình quản lý,điều hành sẽ giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh và lợi nhuận cho DN.

Ông Bùi Chiến Thắng, Phó TGĐ Cảng Hải Phòng cho biết: “Theo kế hoạch, trong hai năm tới sẽ có gần chục cảng cấp 1 và các đơn vị khác của Tổng công ty Hàng hải tiến hành cổ phần hóa. Điều này cũng có nghĩa nhiều nghìn tỷ đồng vốn nhà nước sẽ được đưa ra công chúng đầu tư. Trong bối cảnh hiện nay, để hấp thụ hết nguồn vốn này là điều không hề dễ.

Mặc dù vậy, tiến trình cổ phần hóa các cảng biển lớn vẫn còn rất nhiều việc phải làm như định giá tài sản doanh nghiệp, quyết toán các dự án sử dụng vốn ODA, giải quyết lao động dôi dư... 

Đây là những việc khó khăn, phức tạp nhưng thời gian lại không còn nhiều, nhất là trong bối cảnh ngành Hàng hải đang kỳ vọng, việc tái cơ cấu,cổ phần hóa, nâng cao hiệu quả hoạt động của khối cảng biển sẽ mang lại nguồn vốn, lợi nhuận để hỗ trợ phần nào cho ngành vận tải biển vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay do lượng hàng và cước phí vận chuyển bị giảm mạnh.

Theo CafeF

Theo Đề án đào tạo cán bộ ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước giai đoạn 2013 - 2020 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, sẽ có khoảng 1.800 cán bộ được đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước trong giai đoạn này.

Người đi học phải được cơ quan chủ quản đề cử và cam kết sau khi tốt nghiệp về làm việc tại cơ quan đó
Cụ thể, đào tạo khoảng 1.650 người có trình độ thạc sĩ (từ năm 2013 - 2017 tuyển sinh bình quân khoảng 330 người/1 năm), trong đó chỉ tiêu tuyển sinh dành cho đối tượng giảng viên các cơ sở giáo dục đại học chiếm khoảng 60%; đối tượng thuộc các ngành quân đội và công an chiếm khoảng 10% và đối tượng thuộc các cơ quan nghiên cứu khoa học và công nghệ, các Bộ, ngành, cơ quan khác của nhà nước chiếm khoảng 30%.

Ngoài ra, đào tạo trình độ đại học đối với học sinh đạt giải Olympic quốc tế, học sinh có năng khiếu đặc biệt trong một số lĩnh vực, ngành nghề đặc thù theo nhu cầu nhân lực trình độ cao với số lượng khoảng 150 người (từ năm 2013-2017 tuyển sinh bình quân khoảng 30 người/1năm).

Việc đào tạo được thực hiện theo hai phương thức: Đào tạo tập trung toàn thời gian ở nước ngoài và đào tạo phối hợp gồm một phần thời gian ở nước ngoài, một phần thời gian ở trong nước.

Ưu tiên đào tạo trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹ thuật, kinh tế, nông nghiệp, lâm nghiệp, môi trường, quản lý công, khoa học xã hội và nhân văn, nhất là đối với các ngành nghề mà trong nước chưa có điều kiện đào tạo, thuộc lĩnh vực đặc thù, lĩnh vực có nhu cầu cao.

Về cơ sở nước ngoài gửi đi đào tạo, ưu tiên gửi đi đào tạo tại các nước và vùng lãnh thổ: Anh, Canada, Đức, Hoa Kỳ, Australia, New Zealand, Nhật Bản, Pháp, Hà Lan, Bỉ, Liên bang Nga, Hàn Quốc, Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Ấn Độ, Singapore và một số nước khác có thế mạnh về lĩnh vực đào tạo.

Việc tuyển sinh đào tạo phải bảo đảm nguyên tắc chỉ đào tạo theo nhu cầu của các cơ sở giáo dục đại học, cơ quan nghiên cứu khoa học và công nghệ, cơ quan nhà nước; khuyến khích tài năng trẻ theo chính sách của nhà nước; người đi học phải được cơ quan chủ quản đề cử và cam kết sau khi tốt nghiệp về làm việc tại cơ quan đó, nếu không hoàn thành khóa học hoặc không theo sự điều động, phân công công việc phải đền bù theo quy định hiện hành.

Dự kiến tổng kinh phí chi toàn bộ Đề án khoảng 2.070 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, cấp hằng năm theo quy định của Luật ngân sách và và trên cơ sở dự toán của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Theo VGP News

Dân tộc và miền núi có vai trò quan trọng đối với sự phát triển chung của cả nước. Từng bước thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng miền, các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước.


Nước ta có 53 dân tộc ít người với gần 12,3 triệu người, chiếm gần 14,3% tổng số dân của cả nước. Đất đai, rừng núi vùng đồng bào dân tộc và miền núi sinh sống còn là nơi ngăn lũ, ngăn xói mòn, điều hoà khí hậu, từng là nơi căn cứ cách mạng, là phên dậu của quốc gia.


Nhận thức được vai trò quan trọng đó, Đảng và Nhà nước đã sớm có các chính sách phát triển đối với vùng dân tộc và miền núi. Các chính sách này đã được thể chế hoá bằng các văn bản quy phạm pháp luật, có tính toàn diện và đồng bộ từ cấp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành và các địa phương. Đi cùng với các chính sách là các chương trình, dự án lớn, với nguồn lực đầu tư ngày một tăng...

Dành nguồn lực lớn phát triển vùng dân tộc và miền núi

Từ Chương trình 135 đến Chương trình giảm nghèo nhanh, bền vững ở 62 huyện nghèo rồi các chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nhà ở, nước sinh hoạt, hỗ trợ định canh, định cư... đã giúp đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi từng bước xóa nghèo, ngày càng phát triển.

Trong điều kiện ngân sách Trung ương còn nhiều khó khăn, nhưng lượng trợ cấp để cân đối ngân sách cho các tỉnh thuộc vùng dân tộc và miền núi khá lớn, có nhiều tỉnh cao gấp nhiều lần số thu tại địa phương. Ngay cả thời kỳ 2006- 2012, ngân sách nhà nước đã bố trí cho các chương trình chính sách vùng dân tộc và miền núi với tổng số kinh phí gần 54,8 nghìn tỷ đồng... Nhờ các chính sách này và sự nỗ lực của các địa phương, của nhân dân vùng dân tộc và miền núi, nhiều chỉ tiêu kinh tế- xã hội ở vùng dân tộc và miền núi đã có bước phát triển nhanh so với trước đây, có một số chỉ tiêu còn tăng nhanh hơn một số vùng khác.

Tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người 1 tháng theo giá thực tế năm 2010 so với năm 2002 theo các vùng như sau.

TỐC ĐỘ TĂNG THU NHẬP/NGƯỜI/THÁNG NĂM 2010 SO VỚI NĂM 2002 (%). Nguồn số liệu: TCTK
Theo đó, tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người 1 tháng của Tây Nguyên và của trung du miền núi phía Bắc cao hơn của vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, của Đông Nam Bộ, của đồng bằng sông Cửu Long. Riêng Tây Nguyên có mức bình quân đạt 1,088 triệu đồng, cao thứ 4 trong 6 vùng và có tốc độ tăng cao nhất trong 6 vùng.

Tỷ lệ nghèo của vùng trung du và miền núi phía Bắc đã giảm từ 29,4% năm 2004 xuống 26,7% năm 2011; của Tây Nguyên đã giảm tương ứng từ 29,2% xuống 20,3%. Tỷ lệ hộ dùng điện sinh hoạt năm 2010 ở Tây Nguyên đạt 96,8%, còn cao hơn của đồng bằng sông Cửu Long (96,6%). Tỷ trọng hộ có nhà ở kiên cố của trung du và miền núi phía Bắc đạt khá (47,8%), của Tây Nguyên tuy còn đạt thấp (21,4%), nhưng cũng cao hơn của Đông Nam Bộ (17,9%) và của đồng bằng sông Cửu Long (11%)…

Đây là những thành tựu lớn trong bối cảnh khó khăn chung.

Những việc cần làm

Tuy nhiên, khu vực đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn nhiều khó khăn. Tỷ lệ nghèo năm 2011 ở vùng trung du và miền núi phía Bắc và ở Tây Nguyên còn cao gấp đôi, gấp rưỡi tỷ lệ chung của cả nước (tương ứng là 26,7% và 20,3% so với 12,6%). Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng so với mức bình quân cả nước của vùng trung du và miền núi phía Bắc mới bằng 65,2%, của vùng Tây Nguyên mới bằng 78,4%. Chênh lệch giữa thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người 1 tháng của vùng còn thấp (trung du và miền núi phía Bắc khoảng 39.000 đồng, của Tây Nguyên 117.000 đồng, trong khi các con số tương ứng của cả nước là 176.000 đồng, của Đông Nam Bộ là 580.000 đồng).

Điều đó cho thấy phần chênh lệch để tích luỹ, để dành, đầu tư ở các vùng này còn rất thấp, đòi hỏi sự hỗ trợ tích cực của cả nước.

Những khó khăn, yếu kém trên có nguyên nhân khách quan từ điểm xuất phát còn thấp khi bước vào thực hiện cơ chế thị trường, từ trình độ phát triển và nguồn lực chung của cả nước cũng còn yếu, từ những khó khăn, thách thức trong ngắn hạn khi phải ưu tiên kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô... Tuy nhiên, cũng còn do không ít nguyên nhân chủ quan, phải có giải pháp khắc phục trong thời gian tới.

Trước hết là nhận thức của một số cán bộ các ngành, các cấp về công tác dân tộc, về vị trí, vai trò trọng yếu của vùng dân tộc và miền núi chưa sâu sắc, toàn diện, cả về kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng an ninh. Vì vậy, cần phải nâng cao hơn nữa nhận thức về vấn đề này.

Các chỉ tiêu kế hoạch, thống kê còn chưa tách bạch đầy đủ các nội dung về công tác dân tộc, về vùng dân tộc và miền núi; ngay cả đối với 62 huyện nghèo cũng không có các chỉ tiêu tách riêng. Điều này đã gây khó khăn cho công tác đề ra các kế hoạch cũng như việc kiểm tra, giám sát tiến độ thực hiện kế hoạch, chương trình...

Năng lực tham mưu đề xuất chính sách dân tộc của các Bộ, ngành, địa phương còn hạn chế. Việt Nam đã 25 năm xuất khẩu lương thực với khối lượng lớn đứng thứ hạng cao trên thế giới, nhưng ở vùng dân tộc, miền núi vẫn còn diễn ra tình trạng du canh, du cư, đốt nương làm rẫy để trồng cây lương thực là vấn đề cần có sự nghiêm cấm, rà soát, điều chỉnh, đề xuất cách giải quyết.

Việt Nam có vùng núi rộng lớn, nhiều địa phương có truyền thống trồng ngô, trồng đậu tương, nhưng năm 2012 Việt Nam đã phải nhập khẩu tới trên 1,6 triệu tấn ngô, gần 1,3 triệu tấn đậu tương, nhập khẩu tới gần 841 triệu USD sữa và sản phẩm sữa- tổng kim ngạch nhập khẩu 3 loại này đã lên tới 2,1 tỷ USD. Lực lượng kiểm lâm dù có đông đảo đến mấy cũng không đủ sức nếu không thực hiện tốt việc giao rừng cho người dân quản lý, bảo vệ và trồng rừng thì diện tích rừng sẽ hao hụt, chất lượng rừng sẽ ngày một kém. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu, rà soát để đề xuất việc điều chỉnh mức kinh phí để các hộ gắn bó với rừng, bảo vệ rừng, làm giàu từ rừng...

Trong kinh tế thị trường, người nghèo, người già, phụ nữ, trẻ em, người dân tộc ít người... thuộc diện yếu thế. Những người này ở vùng đồng bào dân tộc, miền núi- do chưa quen với thị trường, xa thị trường, đến với thị trường có nhiều khó khăn- chắc chắn sẽ bị yếu thế hơn.

Vì vậy, từng bước thu hẹp chênh lệch trình độ phát triển giữa các dân tộc, các vùng miền không chỉ là trách nhiệm, tình nghĩa công bằng, mà còn vì sự phát triển chung của đất nước.

Theo VGP News


Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép Trung ương Đoàn TNSC Hồ Chí Minh xây dựng mạng xã hội thanh niên. Điều này thực sự có sức hút lớn, thể hiện sinh động đời sống, tâm tư, sở thích, khát vọng, lý tưởng thanh niên. Qua đó góp phần định hướng đúng đắn cho thanh niên về lòng yêu nước, yêu Tổ Quốc.

Tuy nhiên, trong khi trang web chính thức về mạng xã hội thanh niên còn chưa hoàn thiện thì gần đây cư dân mạng lại xôn xao về sự xuất hiện của một trang web lạ tự xưng là “mạng xã hội kết nối thanh niên Việt Nam” (thanhnienvietnam.vn). Cho phép người dùng đóng góp ý kiến để cùng nhau xây dựng mạng xã hội thanh niên Việt Nam ngày càng hoàn thiện và lớn mạnh.
Điều đáng nói là theo quy định của cục công nghệ thông tin, các website là trang điện tử hay mạng xã hội đều phải được cấp phép và phải ghi rõ ràng số giấy phép, cơ quan chủ quản, địa chỉ liên lạc trên website, nhưng trang này lại không hề có dòng chữ nào về các thông tin trên.

Ngoài ra, mặc dù trang web này có mục đăng ký tài khoản thử nghiệm, nhưng khi nhập địa chỉ email sai thì vẫn nhận được thông báo thành công song vẫn không thể truy cập vào tài khoản. Nguy hiểm hơn, nếu trang web này lập ra có mục đích khác như lừa lấy thông tin tài khoản của người dùng?! 
Trang web tự xưng là mạng xã hội (MXH) kết nối thanh niên VN, có tên là thanhnienvietnam.vn

Sự thật, khi tra cứu tại website vnnic.vn của Trung tâm internet Việt Nam, thì chủ thể đăng ký sử dụng tên miền thanhnienvietnam.vn là Công ty TNHH Giải pháp AZ, địa chỉ đăng ký tại quận 7, TP.HCM. Ngành nghề kinh doanh là: “quảng cáo, nghiên cứu thị trường và thăm dò dư luận. Xử lý dữ liệu, cho thuê và các hoạt động liên quan. Cổng thông tin: thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp, nhà hàng và các dịch vụ ăn uống phục vụ lưu động”…

Rõ ràng, hành động trên đã vi phạm pháp luật Việt Nam vì pháp luật đã quy định rất rõ ràng, việc tạo trang thông tin điện tử giả mạo cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp khác, thông tin sai sự thật xâm hại đên quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân là hành vi bị nghiêm cấm.

Thông số ghi lại từ trung tâm quản lý tên miền Việt Nam.

 Trước sự việc trên, Bí thư Trung ương Đoàn Dương Văn An khẳng định đây không phải là mạng xã hội chính thức của thanh niên Việt Nam theo chủ trương của Thủ tướng Chính phủ đề ra. Có thể đây là một hình thức chiếm tên miền, đăng ký trước tên miền đẹp và nhiều khả năng họ tính đến việc sẽ bán lại với giá cao cho đơn vị khác đang cần.

Đây không phải là mạng xã hội chính thức của thanh niên Việt Nam theo chủ trương của Thủ tướng Chính phủ đề ra. Có thể đây là một hình thức chiếm tên miền, đăng ký trước tên miền đẹp và nhiều khả năng họ tính đến việc sẽ bán lại với giá cao cho đơn vị khác đang cần. (Bí thư Trung ương Đoàn Dương Văn An)
 Ý tưởng và quyết tâm tạo ra một diễn đàn, một sân chơi mở cho thanh niên Việt Nam trên không gian mạng trong thời đại bùng nổ internet là rất cần thiết, hoàn toàn phù hợp với xu hướng và nhu cầu của lớp trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc. Thế nhưng lý tưởng đó hiện đang bị một số đối tượng xấu, lợi dụng để vụ lợi cá nhân. Những hành động như thế này nếu không kịp thời phát giác, ngăn chặn thì sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường, một khi website này bị tấn công, dư luận sẽ phản ứng xấu đi ngược lại với chỉ thị của Thủ tướng.

Vẫn còn đó, câu chuyện về sinh viên Nguyễn Phương Uyên, lên mạng xã hội và bị kẻ xấu lôi kéo, dụ dỗ chống phá nhà nước là một bài học đắt giá, cảnh tỉnh đối với giới trẻ Việt Nam.

Phải thừa nhận rằng, mạng xã hội đã thực sự trở thành phương tiện hữu ích đối với giới trẻ. Nhưng không ít người đã bị “lạc lối trên mạng”, không đủ trí tuệ, bản lĩnh khi tiếp nhận và xử lý những tin đồn thất thiệt, tiêu cực. Vậy nên việc xây dựng mạng xã hội dành riêng cho thanh niên là việc làm hết sức đúng đắn để định hướng thanh niên không có cái nhìn lệch lạc, hiểu sai quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. 

Bạch Dương
Powered by Blogger.